Hội nghị trực tuyến toàn quốc về triển khai Chiến lược Dân số và Sức khỏe sinh sản Việt Nam giai đoạn 2011 – 2020

Tại Hội nghị, các đại biểu đã nghe báo cáo tóm tắt Chiến lược Dân số – Sức khỏe sinh sản Việt Nam giai đoạn 2011- 2020 và hướng dẫn xây dựng kế hoạch hành động thực hiện chiến lược. Phó Thủ tướng nhấn mạnh, tất cả các địa phương đều phải xây dựng kế […]

Tại Hội nghị, các đại biểu đã nghe báo cáo tóm tắt Chiến lược Dân số – Sức khỏe sinh sản Việt Nam giai đoạn 2011- 2020 và hướng dẫn xây dựng kế hoạch hành động thực hiện chiến lược. Phó Thủ tướng nhấn mạnh, tất cả các địa phương đều phải xây dựng kế hoạch hành động và tùy theo tình hình thực tế của địa phương xây dựng các mục tiêu phù hợp với điều kiện phát triển tại địa phương. Nhằm cụ thể hóa các nội dung của chiến lược, tại Hội nghị, một số tỉnh thành như Nghệ An, Đà Nẵng, Quảng Trị, Quảng Ninh… đã có bài tham luận nhằm chia sẻ các giải pháp cũng như định hướng hoạt động trong quá trình triển khai chiến lược tại địa phương mình.

Riêng tại đầu cầu thành phố Hồ Chí Minh, hơn 40 đại biểu là đại diện các sở, ban, ngành tham dự do đồng chí Hứa Ngọc Thuận – Phó Chủ tịch Ủy ban nhân dân thành phố chủ trì và ông Nguyễn Việt Thanh – Giám đốc Sở Y tế thành phố đã có bài tham luận nhằm đề xuất một số giải pháp để toàn dụng dân số trong độ tuổi lao động ở thời kỳ cơ cấu “dân số vàng”, cụ thể:

1. Tăng cường vai trò quản lý của Nhà nước, đồng thời phát huy vai trò của xã hội trong việc phát triển nguồn nhân lực thông qua quy hoạch, quản lý và thực hiện các cơ chế, chính sách thu hút đầu tư, họp tác trong và ngoài nước.

2. Quy hoạch đào tạo và sử dụng nguồn nhân lực cho vùng kinh tế trọng điểm phía Nam, quy hoạch, điều chỉnh hệ thống mạng lưới giáo dục gắn với quy hoạch kinh tế – xã hội của vùng và từng địa phương.

3. Khuyến khích các thành phần kinh tế tham gia vào quá trình giáo dục đào tạo, đặc biệt đào tạo nghề, phát triển việc làm, đẩy mạnh hợp tác quốc tế về đào tạo và xuất khẩu lao động. Khai thác và sử dụng có hiệu quả nguồn lực của mọi thành phần kinh tế, nguồn lực trong và ngoài nước trong sự nghiệp phát triển nguồn nhân lực.

4. Quan tâm hơn nữa đối với chính sách xuất khẩu lao động dài hạn vì đây là một chính sách tạo việc làm, thu nhập hiệu quả cho một lực lượng lao động lớn, đặc biệt ở khu vực nông thôn. Bên cạnh việc chú trọng đào tạo tay nghề cho lực lượng lao động này theo yêu cầu của thị trường.
5. Về vấn đề việc làm trong tương lai, cùng với việc nguồn nhân lực ngày càng tăng về số lượng; các tỉnh, thành phố cần có những tính toàn hợp lý và hiệu quả trong các giải pháp tạo việc làm ở từng khu vực của nền kinh tế theo đặc thù của địa phương cho từng năm.

6. Bên cạnh đó, các tỉnh, thành phố cần thiết lập hệ thống thông tin trao đổi với nhau trong hoạt động hợp tác xây dựng chiến lược, nghiên cứu khoa học, xây dựng cơ chế chính sách phát triển vùng, phát triển khu vực. Từ đó, việc cung cấp thông tin và giới thiệu việc làm đa dạng và quy mô lớn sẽ tăng cường được khả năng tạo việc làm trên thị trường lao động của từng địa phương. Tuyên truyền giáo dục người dân tích cực học tập nâng cao tay nghề, tận dụng cơ hội tốt này nhằm nâng cao chất lượng cuộc sống bản thân, đóng góp cho xã hội.
7. Có chính sách chung về đẩy nhanh quá trình xây dựng và phát triển cho các đô thị vừa và nhỏ trong cả nước, nhằm phân bố dân số và lao động phù hợp theo yêu cầu phát triển của địa phương nhằm tránh tình trạng di cư ồ ạt.

8. Tiếp tục xây dựng các chính sách chăm lo cho người lao động về an sinh xã hội, chăm sóc sức khỏe, các dịch vụ văn hóa để nâng cao đời sống tinh thần và vật chất cho người lao động.

Kết thúc buổi Hội nghị, đồng chí Nguyễn Thiện Nhân – Phó Thủ tướng đã có chỉ đạo cho các bộ, ban, ngành thực hiện theo sự phân công trong chiến lược đề ra. Theo đó, Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch có nhiệm vụ chủ trì, phối hợp với Bộ Y tế, Bộ Giáo dục và Đào tạo, các Bộ, ngành liên quan, Trung ương Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam và Ủy ban nhân dân các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương tổ chức triển khai Đề án tổng thể phát triển nguồn nhân lực, tầm vóc người Việt Nam giai đoạn 2011 – 2030 (Quyết định số 641/QĐ-TTg ngày 28 tháng 4 năm 2011 của Thủ tướng Chính phủ) và Chiến lược phát triển gia đình Việt Nam giai đoạn 2011 – 2020 và tầm nhìn 2030 sau khi được phê duyệt; lồng ghép các nội dung về dân số, sức khỏe sinh sản vào các thiết chế văn hóa hướng tới mục tiêu gia đình ít con, ấm no, tiến bộ, hạnh phúc.

Thanh Lý

There are no comments yet

Tin khác đã đăng